VÁT J TRONG HÀN ỐNG QUỸ ĐẠO- ORBITAL WELDING

(425 Lượt đánh giá)

Vát “J” được đề cập là một lựa chọn tối ưu cho khâu chuẩn bị mặt cuối ống với phương pháp hàn ống theo công nghệ hàn TIG, có bù vật liệu, hàn đa lớp và là dạng hàn quỹ đạo ( orbital welding).

  • twitter
  • Facebook
  • pinteres
Mô tả

vát J hàn orbital

Vát “J” được đề cập là một lựa chọn tối ưu cho khâu chuẩn bị mặt cuối ống với phương pháp hàn ống theo công nghệ hàn TIG, có bù vật liệu, hàn đa lớp và là dạng hàn quỹ đạo ( orbital welding). Quay lại năm 1973, Phòng thí nghiệm quốc gia - ORNL xuất bản một báo cáo về hệ thống hàn TIG quỹ đạo được họ phát triển cho hệ thống đường ống hạt nhân đường kính ngoài OD từ 3 đến 6 inch. Trong báo cáo này ORNL miêu tả các nổ lực không thành công của họ để hàn mối nối tiêu chuẩn vát V ( 30 và 37,5 độ) sử dụng máy hàn TIG quỹ đạo được cơ khí hóa. Với vát V, họ không thể đạt được mối hàn đồng nhất và độ ngấu hoàn toàn với lớp chân mối hàn ( root pass)  , đặc biệt là  hàn ống vị trí 5G.

Những nỗ lực này đã tạo ra kiểu vát mới là vát J, kiểu vát này đã chứng minh là có khả năng điền đầy các lớp, với hàn TIG quỹ đạo sẽ ít khó khăn đạt được ( so với kiểu vát V) và sẽ ít lớp điền đầy hơn ( so với kiểu hàn vát V).

Nhưng những gì trong báo cáo này, chỉ định các thông số vát J đòi hỏi phải canh chỉnh với đường kính trong (ID) gần như phải hoàn hảo đã tạo ra một thử thách, tốn nhiều thời gian và chi phí để có thể thực hiện.

Điều này đã để lại những ấn tượng không tốt  và rào cản về phương pháp này. Nhưng sự thật đã thay đổi.

Ngành công nghiệp gia công chế tạo đã trải qua một chặng đường dài đã tạo ra một loạt các dụng cụ, máy móc, cơ cấu kẹp ID và OD, vát và tiện mặt có giá thành hợp lý, thân thiện người dùng và có khả năng di động . Những dụng cụ này có thể tạo ra mối vát chữ J chỉ còn 20 giây ( Tính cả thời gian gá đặt ống chính xác).

Giờ đây các công ty như EH Wachs, Tri Tool, Orbitalum, ESCO, H & S, Steelmax, Hydratight, MTI và các công ty khác đã chế tạo một loạt các thiết bị gia công và cơ cấu gá ống di động có thể doa,khoét, vát và tiện mặt ống với tốc độ, hiệu quả và tính lập lại cao. Mặt vát J như là mặt hoàn thiện trên máy tiện, nếu quay lại năm 1973 chỉ có thể có tại các cơ sở được trang bị hiện đại. Nếu mặt cuối ống được gia công và gá đặt với các thiết bị tại chổ như này thì kiểu vát J chắc chắn được chấp nhận. 

máy vát J cho ống


Vấn đề về vát J và hàn TIG quỹ đạo.

Không có gì ma thuật với kỹ thuật hàn quỹ đạo. Vấn đề là người hàn bị giới hạn bởi ảnh hưởng của quá trình hàn và trọng lực trên vũng hàn. Chìa khóa của sự khác biệt giữa các hàn phương pháp thủ công ( cả hàn TIG và hàn que - SMAW) và hàn quỹ đạo là chu kỳ công tác ( duty cycle) và khả năng lập lại của mối hàn. Hàn thủ công thông thường có chu kỳ là 25% một ngày.  Còn hàn quỹ đạo là 70-80%.  Chu kỳ này là thời gian hồ quang chạy thực – “Arc on”.

Để đạt chất lượng có tính lặp lại từ mối hàn này đến mối hàn khác, là nhờ có những tính năng tiêu chuẩn bên trong đầu hàn đa chức năng và bộ nguồn điều khiển. Một trong những tính năng quan trọng là tự động kiểm soát điện áp hồ quang ( AVC). Trong hàn ống, điện áp hồ quang ( liên quan trực tiếp đến chiều dài hồ quang) phù thuộc vào dòng hàn, độ ổn định hồ quang và độ đồng tâm của ống. Chiều dài hồ quang ảnh hưởng đến độ ngấu mối hàn, chiều dài hồ quang quá lớn thì ngấu ít và quá ngắn thì tạo ra độ ngấu kém. Khoảng cách giữa điện cực và ống nên giữ không đổi để tránh bị dập tắt trong vũng hàn. Đây cũng là mục đích mà tính năng AVC bảo đảm.

Một thợ hàn có tay nghề rất cao có khả năng tận dụng được mối ghép vát V với hệ thống hàn ống quỹ đạo mà AVC có thể tắt trong suốt quá trình chu kỳ hàn ( trái lại với vát J- không cần thợ tay nghề cao, hàn dễ hơn) . Nhưng nếu không có tính năng này thì chiều dài hồ quang trong suốt quá trình hàn phải được theo dõi liên tục và điều chỉnh bởi thợ hàn ( điều khiển qua bộ tay cầm đầu hàn) – Giống như thợ hàn tay phải làm như cầm đuốc hàn tay. Không có điều khiển AVC, tỷ lệ đạt yêu cầu với hàn có bù sẽ giảm đáng kể.

máy vát J cho ống

Với mối hàn vát J, ngay khi hồ quang được mồi và điểm tham chiếu được thiết lập, bộ điều khiển AVC được ăn khớp. Việc quản lí của người hàn trong toàn bộ chu kỳ hàn bây giờ tập trung định tâm của điện cực trên đường hàn ( trong suốt quá trình hàn cấy chân – root pass) và đảm bảo rằng trong suốt quá trình các lớp điền đầy, tốc độ và độ giao động đều là tối ưu để bảo đảm nung chảy đều các cạnh bên mối hàn.






 




Copyright (C) 2014 www.amazon-machine.com

Develop by web8x.net

^